“Hãy tự biết chính mình” _ “Gnothi Seauton”
Có bao giờ bạn tự hỏi “Ta là ai” _ một trong những câu hỏi triết học hiện sinh, cổ đại và vĩ đại nhất mọi thời kì?
Có bao giờ bạn cũng cảm thấy người xung quanh hiểu thế giới theo cách khác hẳn mình?
Chúng ta trong mọi thời đại luôn muốn hiểu rõ bản thân và người khác, từ đó những bộ môn Typology ra đời như một giải pháp tất yếu, trở nên nổi tiếng và dần được đông đảo con người chấp nhận!
Carl Jung _ nhà tâm lý học phân tích người Thuỵ Sĩ đã dành cả cuộc đời chỉ để vẽ bản đồ tâm hồn và xác định từng kiểu tính cách trên thế giới. MBTI chính là một phần của tấm bản đồ đó.
Hãy cùng mình làm rõ chủ đề MBTI này nhé!
I, Carl Jung là ai, thành tựu, công cuộc khám phá ra các nguyên mẫu :
– Carl Gustav Jung là bác sĩ tâm thần học + nhà tâm lý học người Thụy Sĩ người mở đường cho trường phái tâm lý học phân tích.
– Carl Jung nổi tiếng là một người chuyên nghiên cứu về biểu tượng học và phân tích giấc mơ. Mặc dù giành phần lớn thời gian cho việc triệu liệu lâm sàng, nhưng Jung cũng viết nhiều công trình về các lĩnh vực khác có liên quan như Triết học phương Đông và phương Tây, Giả kim thuật, Thiên văn học, Xã hội học và Văn học nghệ thuật.
– Jung khảo xét sâu xa về cái gọi là Thành toàn tự ngã ( Self-Individuation), đây là một quá trình tích hợp Bóng (Shadow) và Bản ngã (Ego) vào Tự ngã (The Self) và hợp nhất thành một thể hoàn thiện.
– Công cuộc khám phá ra các nguyên mẫu và các loại hình tâm lý (kiểu tính khí) dựa trên hành trình dài đi khắp nơi nghiên cứu tôn giáo, giả kim, thiên văn kết hợp với quan sát từ quá trình trị liệu thực tế cho các bệnh nhân trong thời gian dài.
+ Nguyên mẫu là những kiểu mẫu hành vi, suy nghĩ, cảm nhận… có trong mỗi người được tích hợp vào trong Vô thức tập thể giống như Gen sinh học qua hàng triệu năm tiến hóa. (Ví dụ như nguyên mẫu người mẹ và người con có trong cả người mẹ lẫn người con ngoài thực tế nhằm tạo ra những hành vi thích đáng)
+ Các loại hình tâm lý là các cách thức tâm trí tương tác với thế giới khách quan và thế giới chủ quan (Điều này cũng kích hoạt các nguyên mẫu có sẵn được xuất hiện trong tầng ý thức). Cách tâm trí tương tác với thế giới chủ quan lẫn khách quan được gọi là Function (Chức năng tâm lý)
II, MBTI là gì, nguồn gốc:
– MBTI (Myer Brigg Type Indicator) là 1 bài test trắc nghiệm tâm lý sử dụng các câu hỏi để phân loại tâm lý, tính cách, cách con người nhận thức và đưa ra quyết định. Bài test này được tạo ra bởi 2 mẹ con Myers và Briggs vào chiến tranh thế giới thứ hai nhằm giúp phụ nữ tìm hiểu về bản thân để dễ dàng tham gia lực lượng lao động.
– Bài test có nguồn gốc từ lý thuyết phân loại tính khí trong cuốn sách Psychological Types của nhà tâm lý học Carl Jung xuất bản năm 1921
– Bài test có tính phổ biến lớn, nhất là trong giới kinh doanh, sánh ngang với các bài test như DISC hay Big5. Tuy nhiên MBTI bị chỉ trích rộng rãi bởi các học giả vì điểm yếu về phương pháp luận, thống kê, và độ tin cậy kém !
MBTI không hẳn là “trắc nghiệm 16personalities” mà nó bắt nguồn từ công trình nghiên cứu Psychological Types của Jung năm 1921, một trong những công trình ông viết sau cuộc ly khai khốc liệt với Sigmand Freud.
Sau đó, Isabel Briggs Myers và mẹ của bà Katherine Cook Briggs đã mất hang chục năm để chuyển lý thuyết của Jung thành công cụ đo lường tính cách thực tiễn, ra mắt chính thức năm 1943 với mục đích khai sáng và giúp những người phụ nữ hiểu bản thân và có thể dễ dàng gia nhập thị trường lao động.
Từ đó đến này thì MBTI đã có hơn 80 năm phát triển và đã có nhiều ứng dụng toàn cầu không chỉ trong giáo dục, hướng nghiệp mà còn trong tuyển dụng và đào tạo nhân sự, hôn nhân và các mối quan hệ nói chung. Hiện này thì MBTI có sức ảnh hưởng lớn các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản.
Jung không đơn thuần chỉ là nhà tâm lý học – ông còn là người nghiên cứu giả kim thuật, I Ching, mandala, và vô thức tập thể. MBTI chính là di sản của một nhà tư tưởng sống trên ranh giới khoa học và huyền học.

III, Bốn chiều kích – Bộ tứ la bàn nội tâm
Có 4 trục chính, là 4 chữ cái trong 1 kiểu MBTI được phân định theo yếu tố nhị nguyên:
- E/I: Extrovert – hướng ngoại giống như mặt trời, toả sáng, nạp năng lượng từ việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài; Introvert – hướng nội giống như mặt trăng, thầm kín, tái nạp năng lượng trong bóng tối, khi tương tác với thế giới bên trong. Không phải cứ “hướng ngoại = xã giao giỏi” và ngược lại, đây là hiểu sai khá phổ biến!
- S/N: Sensing – cảm giác, đọc bản đồ và trải nghiệm thế giới theo các giác quan, cái gì gần gũi họ nhất thì thế giới là như vậy. Intuitive – trực giác, thì đọc bản đồ từ độ cao nhìn xuống, luôn cố gắng thu thập thông tin để hiểu bức tranh toàn cảnh về thế giới này. S thì dễ trở nên thực dụng, hạn hẹp, N thì dễ trở nên mơ mộng, ảo tưởng. S sống trong “cái này là gì”, N sống trong “cái này có thể trở thành gì”
- T/F: Thinking – tư duy, dùng cán cân, sự so sánh, logic để đưa ra quyết định, Feeling – cảm nhận thì dùng la bàn, hệ giá trị, tiêu chuẩn đạo đức để ra quyết định. Không phải T thì lạnh lùng, khô khan, F thì cảm xúc và phi lý trí, Jung cho rằng cả T và F đều lý trí theo những cách khác nhau.
- J/P: Judging – phán đoán, phán xét, muốn câu chuyện có kết thúc trước khi bắt đầu, tức là họ tập trung vào kết quả đầu ra, Perceiving – nhận thức, cảm thấy, muốn câu chuyện kết thúc khi nó sẵn sàng, họ tập trung vào trải nghiệm và những gì họ học được thông qua đó.

IV, Các function vận hành ra sao
* 4 function nguyên thủy
– Intuition : Trực giác, trừu tượng
– Sensing : Cảm giác, cụ thể
– Thinking : Suy nghĩ, tư duy
– Feeling : Cảm nhận, cảm xúc
* Hướng nội hay hướng ngoại tạo ra 8 loại hình tâm lý
+ Loại Perceiving (Trải nghiệm, hấp thu, sản xuất thông tin)
Ni: Introvert Intuition
Ne : Extravert Intuition
Si : Introvert Sensing
Se : Extravert Sensing
+ Loại Judging (Đánh giá, xử lí, quyết định thông tin)
Ti : Introvert Thinking
Te : Extravert Thinking
Fi : Introvert Feeling
Fe : Extravert Feeling
* Mỗi người sẽ có một loại hình tâm lý chủ đạo là rõ ràng nhất trong miền ý thức và một loại hình tâm lý phụ trợ nằm giao thoa giữa ý thức và tiềm thức (vô thức cá nhân), các chức năng về sau dễ nhận biết đến đâu phụ thuộc vào độ mở rộng của ý thức, tức là ánh sáng của tâm trí ego.
* Theo lý thuyết mở rộng Socionics thì có mỗi cá nhân có cả 8 function :
1, Dominant — your home base, the process you trust most and use most naturally
2, Auxiliary — the supportive second process that balances the dominant
3, Tertiary — less developed, often emerging more strongly in midlife
4, Inferior — your blind spot, the process you are weakest at and that tends to surface under stress
5, Opposing role
6, Witch
7, Trickster
8, Demon –
Trong những bài viết và video sau tôi sẽ chia sẻ sâu hơn về cách xác định chính xác mbti của mình mà không cần test vì test dễ sai và tốn thời gian. Cùng với đó là bài viết về từng kiểu tính khí trong 16 tính cách mbti nhé!
